Thứ Sáu, 11 tháng 9, 2020

Thơ Walter Scott


Walter Scott (15 tháng 8 năm 1771 – 21 tháng 9 năm 1832) – nhà văn, nhà thơ, nhà sử học, luật sư, nhà sưu tầm cổ vật nổi tiếng thế giới người Scotland. Ông được coi là người sáng lập của thể loại tiểu thuyết lịch sử.
 
Đối với người Scotland, ông không chỉ là một nhà văn. Ông đã làm sống lại ký ức lịch sử của dân tộc này và mở Scotland ra cho phần còn lại của thế giới mà trước hết là cho nước Anh. Trước ông, ở Anh, đặc biệt là ở thủ đô London, lịch sử Scotland gần như không được quan tâm, người ta vẫn coi người vùng cao là “hoang dã”. Các tác phẩm của Scott xuất hiện ngay sau các cuộc chiến tranh của Napoléon, trong đó có các trung đoàn Scotland nổi danh, buộc giới giáo dục của Vương quốc Anh phải thay đổi hoàn toàn thái độ của họ đối với đất nước nghèo nàn nhưng đáng tự hào này.
 
Tiểu sử:
Sinh ra ở Edinburgh, trong gia đình của một luật sư người Scotland giàu có Walter Scott (1729-1799) và Anne Rutherford (1739-1819). Walter Scott là con thứ chín trong gia đình có 13 người con nhưng chỉ 6 người sống sót.
 
Vào tháng 1 năm 1772 cậu bé bị bệnh với chứng tê liệt, mất khả năng vận động của chân phải và bị què mãi mãi. Hai lần - vào năm 1775 và 1777 – Walter Scott đã từng được điều trị tại các khu nghỉ dưỡng ở Bath và Prestonpans.
 
Tuổi thơ của ông gắn liền với khu vực biên giới Scotland, nơi Walter Scott dành thời gian ở trang trại của ông nội ở Sandinow, cũng như trong ngôi nhà của chú mình gần Kelso. Mặc dù bị khuyết tật về thể chất nhưng ngay từ khi còn nhỏ ông đã làm kinh ngạc những người xung quanh bằng một trí tuệ sống động và trí nhớ phi thường.
 
Năm 1778, Walter Scott trở lại Edinburgh. Từ năm 1779, học phổ thông ở Edinburgh, năm 1785 học tại trường Đại học Edinburgh. Từ đây, ông bắt đầu thích leo núi, phát triển mạnh mẽ hơn về thể chất và trở nên nổi tiếng trong giới đồng nghiệp như một người kể chuyện xuất sắc.
 
Scott đọc rất nhiều, kể cả các tác giả cổ đại, rất thích tiểu thuyết và thơ. Cùng với những người bạn của mình, ông đã tổ chức “Hội Thơ ca” ở trường đại học, học tiếng Đức và làm quen với tác phẩm của các nhà thơ Đức.
 
Năm 1791, ông gặp mối tình đầu của mình - Williamina Belshes, con gái của một luật sư ở Edinburgh. Trong năm năm, chàng trai cố gắng giành được sự yêu thương của Williamina, nhưng cô gái giữ anh ta trong tình trạng lấp lửng và cuối cùng đã thích William Forbes, con trai của một chủ ngân hàng giàu có, người mà cô kết hôn vào năm 1796. Tình yêu không được đáp lại là một cú đánh mạnh mẽ đối với chàng trai trẻ, hình ảnh của Williamina sau đó liên tục xuất hiện trong các nữ nhân vật trong tiểu thuyết của nhà văn. 
 
Năm 1797, ông kết hôn với Charlotte Carpenter (Charpentier; 1770-1826). Vợ chồng sinh được năm người con, bốn người còn sống sót (Sofia, Walter, Anna và Charles).
 
Có được danh tiếng thế giới nhờ các tác phẩm văn học, Scott dành nhiều thời gian cho các hoạt động luật pháp, chính trị và xã hội. Ông làm thư ký của tòa án (từ năm 1806), thành viên thường trực của đảng bảo thủ và là một thành viên tích cực của Hiệp hội vùng đất cao nguyên. Năm 1820-1832, ông là Chủ tịch Hội Hoàng gia Edinburgh, năm 1827-1829, ông là Phó Chủ tịch Hiệp hội Cổ vật Scotland.
 
Trong đời thường, ông là một người đàn ông gương mẫu, một người nhạy cảm, khéo léo, yêu trang trại Abbotsford của mình, nơi ông đã xây dựng lại, biến nó thành một lâu đài nhỏ, yêu cây cỏ, vật nuôi, những bữa tiệc ngon trong mái ấm gia đình.
 
Năm 1830, ông bị đột quỵ lần đầu làm cho tê liệt cánh tay phải. Trong những năm 1830-1831, Scott bị thêm hai lần đột quị nữa.
 
Ông qua đời vì một cơn đau tim vào ngày 21 tháng 9 năm 1832 và được chôn cất tại Tu viện Dryburgh, gần thành phố Melrose.
 
Tác phẩm chính:
 
Văn
-Waverley, hay là sáu mươi năm trước (Waverley; or 'Tis Sixty Years Since), 1814
- Guy Mannering hay là nhà chiêm tinh (Guy Mannering or The Astrologer), 1815
-Người lùn đen (The Black Dwarf ), 1816
-Rob Roy, 1818
-Ivanhoe, 1819
-Huyền thoại về Montrose (A Legend of Montrose), 1819
-Cô dâu Lammermoor (The Bride of Lammermoor), 1819
-The Abbot,1820
-Tu viện (The Monastery), 1820
-Người đẹp Perth, hay là Ngày Tình yêu (The Fair Maid of Perth; Or, St. Valentine's Day, 1828
 
Thơ
-Những bài ca biên giới (Minstrelsy of the Scottish Border), 1802
-Bài ca của người hát rong cuối (The Lay of the Last Minstrel), 1805
-Marmion, 1808
-Người đẹp của hồ (The Lady of the Lake), 1810
-Rokeby, 1813
-Cánh đồng Waterloo (The Field of Waterloo), 1815
-Chúa tể của những hòn đảo (The Lord of the Isles), 1815
 
5 bài thơ
 

HOA TÍM
 
Hoa tím dại len lỏi trong bóng râm
Giữa những cây phỉ, bạch dương san sát
Hoa có thể tự hào mình đẹp nhất
Dù ở đâu, trong thung lũng, trong rừng.
 
Đẹp lung linh trong buổi sớm mai hồng
Là đôi mắt màu xanh loài hoa tím
Nhưng tôi biết có đôi mắt xanh thắm
Lấp lánh qua dòng lệ ngọt ngào hơn.
 
Mặt trời mùa hè xua những giọt sương
Qua tia nắng đầu tiên từ sáng sớm
Dòng lệ trong mắt người yêu vừa chớm
Cũng qua mau như tất cả nỗi buồn.
1797
 
The Violet
 
The violet in her greenwood bower,
Where birchen boughs with hazel mingle,
May boast itself the fairest flower
In glen, or copse, or forest dingle.
 
Though fair her gems of azure hue,
Beneath the dew-drop's weight reclining;
I've seen an eye of lovelier blue,
More sweet through wat'ry lustre shining.
 
The summer sun that dew shall dry,
Ere yet the day be past its morrow;
No longer in my false love's eye
Remain'd the tear of parting sorrow.
 
 
CÔ GÁI BÊN HỒ TORO
 
Trên hồ Toro hoàng hôn cháy đỏ
Cây cối đã thôi xào xạc trong rừng
Cô gái đẹp với nỗi buồn gọi gió
Rồi khóc lên trước hồ nước mênh mông.
 
“Hỡi các vị thần thánh ở thiên đường
Các vị sống trong lâu đài hạnh phúc
Xin trả về chàng Henry của con
Hãy cứu chàng, hoặc Eleanor sẽ chết!”
 
Gió mang những âm thanh từ chiến trận:
Quân thù tấn công, giáo mác khua vang
Chút im lặng rồi lại trào như sóng
Những tiếng kêu than thảm thiết kinh hoàng.
 
Nàng nín thở đưa mắt nhìn phía rừng
Nàng thấy người lính bị thương đang đến
Vẻ mệt mỏi trong từng bước chân anh
Chiếc mũ trên đầu không còn nguyên vẹn.
 
“Cô gái ơi, em hãy tự cứu mình
Quân ta rút lui, quân thù đang tới
Henry dũng cảm của em đã nằm
Và chắc gì anh ấy còn đứng dậy!”
 
Nhìn tuyệt vọng trong mắt người lính kia
Nàng thấy mình bất lực bên hồ nước
Mặt trời ghé xuống trên hồ Toro
Vì lòng Dũng cảm và vì Cái đẹp.
1806
 
The Maid of Toro
 
O, low shone the sun on the fair lake of Toro,
And weak were the whispers that waved the dark wood,
All as a fair maiden, bewilder'd in sorrow,
Sorely sigh'd to the breezes, and wept to the flood.
"O, saints! from the mansions of bliss lowly bending;
Now grant my petition, in anguish ascending,
My Henry restore, or let Eleanor die!"
 
All distant and faint were the sounds of the battle,
With the breezes they rise, with the breezes they fail,
Till the shout, and the groan, and the conflict's dread rattle,
And the chase's wild clamour, came loading the gale.
Breathless she gazed on the woodlands so dreary;
Slowly approaching a warrior was seen;
Life's ebbing tide mark'd his footsteps so weary,
Cleft was his helmet, and woe was his mien.
 
"O, save thee, fair maid, for our armies are flying!
O, save thee, fair maid, for thy guardian is low!
Deadly cold on yon heath thy brave Henry is lying,
Scarce could he falter the tidings of sorrow,
And scarce could she hear them, benumb'd with despair:
And when the sun sunk on the sweet lake of Toro,
For ever he set to the Brave and the Fair.
 
 


CÔ GÁI TỪ NEIDPATH
 
Mắt người yêu sắc sảo
Tai người yêu tuyệt vời
Tình yêu biết cam chịu
Những cay đắng trong đời.
 
Mary với bệnh tật
Nỗi tuyệt vọng trị vì
Nàng đang ngồi trên tháp
Đợi người yêu quay về.
 
Đôi mắt đã nhạt nhòa
Vẻ đẹp tàn phai hẳn
Bàn tay không thể che
Ngọn nến đang chiếu sáng.
 
Chẳng còn những sắc màu
Trên má nàng tái nhợt
Cả thân hình xanh xao
Nàng như người sắp chết.
 
Nhưng nàng đợi người xa
Nhọc nhằn từng hơi thở
Trước cả chó, nàng nghe
Chàng đang dồn bước ngựa.
 
Vừa thấy người cưỡi ngựa
Nàng đưa mắt nhìn theo
Và qua ô cửa sổ
Đưa tay vẫy đón chào.
 
Chàng đến gần, lặng im
Như Mary chẳng có
Lời chào hỏi của nàng
Chìm trong tiếng vó ngựa.
 
Và chàng dồn bước ngựa
Bỏ lại tiếng thì thầm
Đôi môi nàng nức nở
Con tim nàng vỡ tung.
1806
 
The Maid of Neidpath
 
O lovers’ eyes are sharp to see,
And lovers’ ears in hearing;
And love, in life’s extremity,
Can lend an hour of cheering.
 
Disease had been in Mary’s bower
And slow decay from mourning,
Though now she sits on Neidpath’s tower
To watch her Love’s returning.
 
All sunk and dim her eyes so bright,
Her form decay’d by pining,
Till through her wasted hand, at night,
You saw the taper shining.
 
By fits a sultry hectic hue
Across her cheek was flying;
By fits so ashy pale she grew
Her maidens thought her dying.
 
Yet keenest powers to see and hear
Seem’d in her frame residing;
Before the watch-dog prick’d his ear
She heard her lover’s riding;
 
Ere scarce a distant form was kenn’d
She knew and waved to greet him,
And o’er the battlement did bend
As on the wing to meet him.
 
He came—he pass’d—an heedless gaze
As o’er some stranger glancing:
Her welcome, spoke in faltering phrase,
Lost in his courser’s prancing—
 
The castle-arch, whose hollow tone
Returns each whisper spoken,
Could scarcely catch the feeble moan
Which told her heart was broken.
  

DATUR HORA QUIETI*
 
Ánh hoàng hôn ghé xuống
Trên hồ, trên núi non
Chim chóc giờ im tiếng
Leonard, hãy nhanh chân.
 
Ai dậy buổi bình minh
Ra đồng, lo về sớm
Buổi hoàng hôn yên ấm
Chờ đợi sự yêu thương.
 
Cô gái trên tháp cao
Chờ đợi người yêu dấu
Áo giáp thép khi nào
Giữa bụi cây nhấp nháy.
 
Cô khác bên bờ ruộng
Đợi người yêu của mình
Khi nào sẽ thấp thoáng
Áo choàng của Colin.
 
Thiên nga tìm bạn vội
Sau một ngày cô đơn
Hươu đực gặp hươu cái
Liền rủ nhau vô rừng.
 
Ai ban ngày cô đơn
Khi màn đêm buông xuống
Vội vàng đi tìm bạn
Leonard, hãy nhanh chân.
1830
_____________
*Giờ nghỉ ngơi (tiếng Latin).
 
Datur Hora Quieti
 
The sun upon the lake is low,
The wild birds hush their song,
The hills have evening's deepest glow,
Yet Leonard tarries long.
 
Now all whom varied toil and care
From home and love divide,
In the calm sunset may repair
Each to the loved one's side.
 
The noble dame, on turret high,
Who waits her gallant knight,
Looks to the western beam to spy
The flash of armour bright.
 
The village maid, with hand on brow
The level ray to shade,
Upon the footpath watches now
For Colin's darkening plaid.
 
Now to their mates the wild swans row,
By day they swam apart,
And to the thicket wanders slow
The hind beside the hart.
 
The woodlark at his partner's side
Twitters his closing song -
All meet whom day and care divide,
But Leonard tarries long!
 
 
GỬI QUÍ CÔ – VỚI NHỮNG BÔNG HOA
TỪ BỨC TƯỜNG LA MÃ
 
Xưa nơi này những bông hoa đỏ thắm
Nhưng giờ đây thành lũy đã không còn
Những người con của tự do dũng cảm
Dưới lá cờ La Mã đã đấu tranh.
 
Không còn vòng nguyệt quế cho người lính
Nhưng vẫn còn đây những đóa hồng hoang
Từ những bông hoa này em hãy bện
Một vòng hoa cho tóc đẹp của mình.
1897
 
To a Lady - with Flowers from a Roman Wall
 
Take these flowers which, purple waving,
On the ruin'd rampart grew,
Where, the sons of freedom braving,
Rome's imperial standards flew.
 
Warriors from the breach of danger
Pluck no longer laurels there;
They but yield the passing stranger
Wild-flower wreaths the Beauty's hair.
  

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét