Thứ Bảy, 12 tháng 9, 2020

Thơ Robert Southey

 


Robert Southey (12 tháng 8 năm 1774 – 21 tháng 3 năm 1843) – nhà thơ Anh thuộc trường phái Lãng mạn và là “Nhà thơ Hoàng gia” từ năm 1813 cho đến khi ông qua đời.
 
Tiểu sử
Robert Southey sinh ở Bristol, học tại Trường Westminster và Đại học Belliol, Oxford, nơi ông gặp và làm quen với Samuel Taylor Coleridge. Thời trẻ, ông say mê những ý tưởng của Cách mạng Pháp và đã viết vở kịch “Wat Tyler” với tinh thần cách mạng sục sôi. Năm 1795, ông đi du lịch đến Bồ Đào Nha, kết hôn với Edith Fricker (Coleridge kết hôn với em gái cô, Sara).
 
Năm 1800, Southey đi du lịch đến Tây Ban Nha và trở về định cư ở vùng hồ (Lake District), nơi ông ở cho đến cuối đời. Năm 1813 ông được bổ nhiệm làm “Nhà thơ Hoàng gia” sau khi Walter Scott từ chối vị trí này.
 
Năm 1838 Edith qua đời và Southey tái hôn với Caroline Anne Bowles, cũng là một nhà thơ. Ông qua đời ngày 21 tháng 3 năm 1843 và được chôn cất tại nhà thờ Crosthwaite. Có một đài tưởng niệm ông bên trong nhà thờ với một văn bia do bạn ông, William Wordsworth viết.
 
3 bài thơ
 


NHỮNG LỜI THAN PHIỀN CỦA NGƯỜI NGHÈO
 
“Tại vì sao người nghèo hay than phiền?”
Người đàn ông giàu hỏi tôi như vậy
“Hãy đi ra ngoài với tôi – tôi nói –
Tôi sẽ tìm câu trả lời cho ông”.
 
Buổi tối tuyết rơi trên những con đường
Và trong không gian một cơn gió lạnh
Còn chúng tôi ăn mặc không đủ ấm
Dù chúng tôi mặc quần áo mùa đông.
 
Chúng tôi gặp một ông già đầu trần
Những sợi tóc trên đầu ông bạc trắng.
Tôi hỏi: “Vì sao trong đêm giá lạnh
Mà ông vẫn bước ra đường?”
 
“Thật khổ cái thân này – ông già nói –
Nhà tôi không có lửa, lạnh như băng
Cực chẳng đã tôi phải bước ra đường
Mong sẽ xin ai đó cho bó củi”.
 
Chúng tôi gặp một đứa bé chân trần
Cô bé này mặc áo quần rách rưới
“Tại vì sao đi ra đường – tôi hỏi –
Giữa trời đêm gió lạnh và giá băng?”
 
Cô bé nói rằng: cha cô ở nhà
Đang ốm nặng, nằm liệt giường liệt chiếu
Mà trong nhà không có gì ăn cả
Cô phải đi để xin bánh nuôi cha.
 
Và chúng tôi thấy một người phụ nữ
Ngồi trên một hòn đá để nghỉ chân
Một đứa con cô mang ở sau lưng
Một đứa phía trước cô đang cho bú.
 
“Tại vì sao chị ở đây – tôi hỏi –
Giữa trời đêm gió lạnh của mùa đông
Tôi cảm thấy thương cho những đứa con”
Người phụ nữa trả lời tôi như vậy:
 
“Chồng của tôi là một người lính trận
Vì nhà vua đã đi ra chiến trường
Tôi ở nhà phải tự mình nuôi con
Phải ra đường xin bánh mì để sống”.
 
Một cô gái ăn mặc rất nhẹ nhàng
Mắt trũng sâu nhưng nhìn cô vẫn đẹp
Cô mỉm cười nhìn chúng tôi gần mặt
Có vẻ như một cô gái đứng đường.
 
Tôi hỏi rằng có tội lỗi gì không
Nếu tôi nói một điều không giấu giếm
Cô gái trả lời: “Nhà em nghèo lắm
Suốt cả ngày chưa có chút gì ăn”.
 
Người đàn ông giàu có đứng lặng im
Tôi nói rằng: “Bây giờ ông đã thấy
Mọi người đã trả lời cho câu hỏi:
Tại vì sao người nghèo hay than phiền?”
 
The Complaints of the Poor
 
And wherefore do the Poor complain?
The rich man asked of me,--
Come walk abroad with me, I said
And I will answer thee.
 
Twas evening and the frozen streets
Were cheerless to behold,
And we were wrapt and coated well,
And yet we were a-cold.
 
We met an old bare-headed man,
His locks were few and white,
I ask'd him what he did abroad
In that cold winter's night:
 
'Twas bitter keen indeed, he said,
But at home no fire had he,
And therefore, he had come abroad
To ask for charity.
 
We met a young bare-footed child,
And she begg'd loud and bold,
I ask'd her what she did abroad
When the wind it blew so cold;
 
She said her father was at home
And he lay sick a-bed,
And therefore was it she was sent
Abroad to beg for bread.
 
We saw a woman sitting down
Upon a stone to rest,
She had a baby at her back
And another at her breast;
 
I ask'd her why she loiter'd there
When the wind it was so chill;
She turn'd her head and bade the child
That scream'd behind be still.
 
She told us that her husband served
A soldier, far away,
And therefore to her parish she
Was begging back her way.
 
We met a girl; her dress was loose
And sunken was her eye,
Who with the wanton's hollow voice
Address'd the passers by;
 
I ask'd her what there was in guilt
That could her heart allure
To shame, disease, and late remorse?
She answer'd, she was poor.
 
I turn'd me to the rich man then
For silently stood he,
You ask'd me why the Poor complain,
And these have answer'd thee.
 
 


CORNELIUS AGRIPPA, BÀI BALLAD VỀ CHÀNG TRAI
ĐỌC SÁCH BẤT HỢP PHÁP VÀ BỊ TRỪNG PHẠT
 
Cornelius Agrippa một hôm lên đường
Đã cẩn thận khóa căn phòng của mình
Trao chìa khóa và dặn dò người vợ
Không cho một ai được phép vào trong.
 
“Nếu có ai hỏi muốn được vào phòng
Thì em từ chối người ta thẳng thừng
Bất kể ai, dù van nài cầu khẩn
Vẫn cứ nói không và chỉ nói không”.
 
Có một chàng trai trẻ sống ở gần
Từ lâu muốn được ghé vào gian phòng
Chàng nài nỉ và cầu xin người vợ
Người vợ ngu trao chìa khóa cho chàng.
 
Một cuốn sách dày dặn đặt trên bàn
Mà Agrippa vừa mới đọc xong
Những hàng chữ được viết bằng máu đỏ
Bìa bằng da của người đã lìa trần.
 
Những trang sách ma thuật và kinh hoàng
Đầy những hình ảnh quái dị lạ lùng
Na ná nhau và vô cùng khó hiểu
Chẳng làm sao kể lại được kỹ càng.
 
Và chàng trai bắt đầu đọc từng trang
Thấy khó hiểu, ý nghĩa rất tối tăm
Đột nhiên nghe thấy tiếng người gõ cửa
Chàng vẫn đọc nhưng tiếng gõ mạnh hơn.
 
Tiếng gõ càng mạnh và rất lạ lùng
Chàng không biết điều gì đến với mình
Chàng ngồi yên, run rẩy và khiếp sợ
Cho đến khi xuất hiện quỷ Sa-tăng.
 
Hai cái sừng trên đầu rất kinh hoàng
Giống như sắt chỉ vừa mới nung xong
Và một làn khói xanh từ lỗ mũi
Còn cái đuôi như con rắn vẫy vùng.
 
“Ngươi cần gì ở ta?” – quỷ kêu lên
Nhưng chàng trai trẻ chỉ biết lặng im
Mọi sợi tóc trên đầu chàng dựng đứng
Chân tay của chàng đều lẩy bẩy run.
 
“Người cần gì?” – quỷ tiếp tục kêu lên
Còn chàng trai trẻ tiếp tục lặng im
Những lời trên môi của chàng hóa đá
Một nỗi kinh hoàng thấu tận vào xương.
 
“Người cần gì?” – lần thứ ba kêu lên
Những tia chớp từ đôi mắt kinh hoàng
Quỷ giơ móng vuốt giữa bầu không khí
Chàng trai không kịp cầu nguyện cho mình.
 
Đôi mắt quỷ rực lửa và điên cuồng
Khi quỷ xé nát trái tim của chàng
Nhe hàm răng và quỷ cười toe toét
Theo tiếng sấm rền quỷ biến mất tăm.
 
LỜI RĂN
 
Hỡi những chàng trai trẻ, hãy coi chừng
Khi tìm đọc những cuốn sách linh thiêng.
 
Cornelius Agrippa; A Ballad, of a Young Man
that would Read Unlawful Books, and how he was Punished
 
CORNELIUS AGRIPPA went out one day;
His study he lock'd ere he went away,
And he gave the key of the door to his wife,
And charged her to keep it lock'd on her life.
 
"And if any one ask my Study to see,
I charge you to trust them not with the key;
Whoever may beg, and entreat, and implore,
On your life let nobody enter that door."
 
There lived a young man in the house, who in vain
Access to that Study had sought to obtain;
And he begg'd and pray'd the books to see,
Till the foolish woman gave him the key.
 
On the Study-table a book there lay,
Which Agrippa himself had been reading that day;
The letters were written with blood therein,
And the leaves were made of dead men's skin;-
 
And these horrible leaves of magic between
Were the ugliest pictures that ever were seen,
The likeness of things so foul to behold,
That what they were is not fit to be told.
 
The young man he began to read
He knew not what; but he would proceed,
When there was heard a sound at the door
Which, as he read on, grew more and more.
 
And more and more the knocking grew;
The young man knew not what to do;
But, trembling, in fear he sat within,
Till the door was broke, and the Devil came in.
 
Two hideous horns on his head he had got,
Like iron heated nine times red-hot;
The breath of his nostrils was brimstone blue,
And his tail like a fiery serpent grew.
 
"What wouldst thou with me?" the Wicked One cried,
But not a word the young man replied;
Every hair on his head was standing upright,
And his limbs like a palsy shook with affright.
 
"What wouldst thou with me?" cried the Author of ill;
But the wretched young man was silent still;
Not a word had his lips the power to say,
And his marrow seem'd to be melting away.
 
"What wouldst thou with me?" the third time he cries,
And a flash of lightning came from his eyes,
And he lifted his griffin claw in the air,
And the young man had not strength for a prayer.
 
His eyes red fire and fury dart
As out he tore the young man's heart;
He grinn'd a horrible grin at his prey;
And in a clap of thunder vanish'd away.
 
THE MORAL
 
Henceforth let all young men take heed
How in a Conjurer's books they read.
 
 
NHỮNG CUỐN SÁCH CỦA TÔI
 
Ngày của tôi giữa những người đã chết
Họ vẫn đâu đây ở xung quanh tôi
Đôi mắt của họ vẫn nhìn không rời
Những bộ óc của những người vĩ đại
Tôi kết bạn với những con người ấy
Và tôi trò chuyện với họ hàng ngày.
 
Ý nghĩ, tình cảm và những niềm vui
Tôi nhận biết, tôi sẻ chia với họ
Và tôi cảm thấy mình mang nợ
Với những con người này
Và tôi khóc mà không cần đến lời
Tôi biết rằng tôi luôn mang ơn họ.
 
Tôi đang sống giữa những con người đó
Ý nghĩ của tôi về tháng ngày qua
Trong mọi điều suy luận, trong tình yêu
Trong những niềm hy vọng và nỗi sợ
Và tất cả bài học mà tôi có
Đều đến từ những người vĩ đại kia.
 
Hy vọng của tôi với người đã chết
Tôi sẽ ra đi khi đến lượt mình
Cùng với họ tôi sẽ theo con đường
Mà số phận của mình từng sắp đặt
Nhưng tôi vẫn tin rằng những cuốn sách
Và cái tên còn mãi với thời gian.
 
His Books
 
My days among the Dead are past;
Around me I behold,
Where'er these casual eyes are cast,
The mighty minds of old;
My never-failing friends are they,
With whom I converse day by day.
 
With them I take delight in weal,
And seek relief in woe;
And while I understand and feel
How much to them I owe,
My cheeks have often been bedew'd
With tears of thoughtful gratitude.
 
My thoughts are with the Dead, with them
I live in long-past years,
Their virtues love, their faults condemn,
Partake their hopes and fears,
And from their lessons seek and find
Instruction with an humble mind.
 
My hopes are with the Dead, anon
My place with them will be,
And I with them shall travel on
Through all Futurity;
Yet leaving here a name, I trust,
That will not perish in the dust.


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét