Thứ Sáu, 11 tháng 9, 2020

Thơ Robert Louis Stevenson

 
Robert Louis Stevenson (tên khai sinh: Robert Lewis Balfour Stevenson, 13 tháng 11 năm 1850 – ngày 3 tháng 12 năm 1894) – nhà văn, nhà thơ người Scotland, tác giả của tiểu thuyết phiêu lưu và truyện ngắn, một đại diện tiêu biểu của chủ nghĩa tân lãng mạn.
Tiểu sử:
Robert Louis Stevenson sinh ngày 13 tháng 11 năm 1850 tại Edinburgh, Scotland. Cha của ông, Thomas Stevenson là con của một gia đình kỹ sư cha truyền con nối, một chuyên gia về hải đăng, người đã xây dựng hầu hết các ngọn hải đăng quanh bờ biển Scotland. 
 
Năm 1867, ông vào Đại học Edinburgh nhưng trái với truyền thống gia đình nghiên cứu khoa học tự nhiên để trở thành kỹ sư xây dựng, ông dành nhiều thời gian hơn cho văn học Pháp và lịch sử Scotland. Cuối cùng, khi đã quyết định học luật, năm 1875 ông tốt nghiệp đại học và nhận được danh hiệu luật sư.
 
Năm lên 18 tuổi, Stevenson từ chối cái tên được đặt cho ông trong lễ rửa tội. Ông đã loại trừ hoàn toàn cái tên Belfour, và cái tên Lewis, thay đổi cách đánh vần từ Lewis thành Louis, trong khi cách phát âm không thay đổi.
 
Những thành công đầu tiên trong lĩnh vực văn học và sức khỏe kém đã làm cho ông thích văn học hơn vào quán bar. Vào cuối những năm 1870, ông đi du lịch đến Pháp, Đức và quê hương Scotland, kết quả là hai cuốn sách về những ấn tượng du lịch đầu tiên xuất hiện: “Du lịch trong đất nước” (Edinburgh: Picturesque Notes, 1878) và “Du lịch với một con lừa ở Cévennes” (Travels with a Donkey in the Cévennes, 1879). Các tiểu luận được viết trong giai đoạn này được ông tập hợp trong một cuốn sách có tên Latin là “Virginibus Puerisque, 1881”.
 
Bước ngoặt trong cuộc sống cá nhân của Stevenson là cuộc gặp gỡ vào tháng 9 năm 1876 với Fanny Osbourne, một người thích vẽ tranh và đã kết hôn. Người phụ nữ này lớn hơn ông 10 tuổi. Năm 1878 Fanny Osbourne ly dị chồng, năm 1880 kết hôn với Stevenson. Ông kết bạn với các con của vợ mình, sau đó con trai riêng của vợ ông, Lloyd Osbourne trở thành đồng tác giả của các cuốn sách: “Sai lầm” (The Wrong Box, 1889), “Đắm tàu” (The Wrecker, 1892) và “Nước ròng” (The Ebb-Tide, 1894).
 
Năm 1880, Stevenson được chẩn đoán mắc bệnh lao. Để tìm một nơi có khí hậu tốt cho sức khỏe, ông đã đến thăm Thụy Sĩ, miền nam nước Pháp, Bournemouth, Anh, từ năm 1887 đến 1888, ông sống ở hồ Saranac thuộc bang New York, Mỹ. Một phần do sức khỏe yếu, một phần để thu thập tài liệu cho việc sáng tác, Stevenson cùng vợ và con trai riêng đã đi du thuyền đến phía nam Thái Bình Dương. Họ đến thăm một số quần đảo ở nam Thái Bình Dương, Úc và mua một mảnh đất ở Samoa, ông quyết định định cư ở vùng nhiệt đới trong một thời gian dài. Ông làm cho mình một căn nhà gỗ 2 tầng ở làng Wailima. Khí hậu của hòn đảo đã mang lại lợi ích cho nhà văn: một số tác phẩm hay nhất của ông được viết trong ngôi nhà rộng rãi và nhiều cây cối ở Wailima.
 
Cuốn tiểu thuyết “Đảo châu báu” (Treasure Island) đã mang lại danh tiếng thế giới cho nhà văn, nó đã trở thành một ví dụ kinh điển của văn học phiêu lưu. Stevenson đã xuất bản các tập thơ “Vườn thơ của trẻ” (A Child's Garden of Verses, 1885), “Những khóm cây thấp” (Underwoods, 1887) và những bài ballad khác. Những bài thơ và những bản ballad của ông theo tinh thần thơ ca dân gian được viết bằng một ngôn ngữ giản dị và rõ ràng.
 
Ngày 3 tháng 12 năm 1894 Robert Stevenson đột ngột qua đời vì xuất huyết não. Ông được chôn cất tại một trong những hòn đảo của Samoa.
 
Stevenson đã làm hồi sinh tiểu thuyết phiêu lưu và tiểu thuyết lịch sử ở Anh. Nhưng ông thích phiêu lưu chỉ vì mục đích phiêu lưu. Trong tiểu thuyết lịch sử, ông từ chối mô tả các sự kiện công cộng lớn, hạn chế các tác phẩm thể hiện cuộc phiêu lưu của các anh hùng và lịch sử chỉ phục vụ như một bối cảnh ngẫu nhiên.
 
Vào tháng 12 năm 1969, Bảo tàng Robert Lewis Stevenson đã được khai trương tại thị trấn Wailima ở Samoa. Bảo tàng nằm trong ngôi nhà mà Stevenson đã trải qua những năm cuối đời (1890 - 1894).   
 
Tác phẩm chính:
 
Văn
*Du lịch trong đất nước (Edinburgh: Picturesque Notes, 1878)
*Du lịch với con lừa ở Cévennes (Travels with a Donkey in the Cévennes, 1879)
*Virginibus Puerisque, and Other Papers, 1881
*Đảo châu báu (Treasure Island, 1883)
*Hoàng tử Otto (Prince Otto, 1885)
*Câu chuyện lạ lùng của bác sĩ Jekyll và ông Hyde (Strange Case of Dr Jekyll and Mr Hyde, 1886)
*Bị bắt cóc (Kidnapped, 1886)
*Mũi tên đen (The Black Arrow: A Tale of the Two Roses, 1888)
*Sai lầm (The Wrong Box, 1889) cùng với Lloyd Osbourne
*Đắm tàu (The Wrecker, 1892) cùng với Lloyd Osbourne
*Nước ròng (The Ebb-Tide, 1894) cùng với Lloyd Osbourne
 
Thơ
*Vườn thơ của trẻ (A Child's Garden of Verses, 1885)
*Những khóm cây thấp” (Underwoods, 1887)
*Những bài ballad (Ballads, 1891)
*Những khúc hát lữ hành (Songs of Travel and Other Verses, 1896)
 
16 bài thơ
 

Tập “Những khúc hát lữ hành”
 
LÃNG DU
 
Cho tôi sống như ý
Nhiều thứ tôi chẳng cần
Chỉ bầu trời phía trên
Và con đường phía dưới.
Giường tôi đặt trong bụi
Bánh mì nhúng nước sông
Mong cuộc sống như vậy
Đi hết con đường trần.
 
Sớm sủa hay muộn màng
Tai ương cũng sẽ tới
Cần mặt đất xung quanh
Cần con đường rộng mở
Chứ không cần giàu có
Không hy vọng, không tình
Chỉ bầu trời phía trên
Và con đường phía dưới.
 
Còn khi mùa thu tới
Không chán nản, không buồn
Tiếng chim sẽ im lặng
Ngón tay cũng đóng băng
Tuyết rơi trắng trên đồng
Bên bếp lò sưởi ấm
Mùa thu – không chịu đựng
Sau đó sẽ mùa đông.
 
Sớm sủa hay muộn màng
Tai ương cũng sẽ tới
Cần mặt đất xung quanh
Cần con đường rộng mở
Chứ không cần giàu có
Không hy vọng, không tình
Chỉ bầu trời phía trên
Và con đường phía dưới.
 
The Vagabond
(From Songs of Travel)
 
Give to me the life I love,
Let the lave go by me,
Give the jolly heaven above
And the byway nigh me.
Bed in the bush with stars to see,
Bread I dip in the river -
There's the life for a man like me,
There's the life for ever.
 
Let the blow fall soon or late,
Let what will be o'er me;
Give the face of earth around
And the road before me.
Wealth I seek not, hope nor love,
Nor a friend to know me;
All I seek, the heaven above
And the road below me.
 
Or let autumn fall on me
Where afield I linger,
Silencing the bird on tree,
Biting the blue finger.
White as meal the frosty field -
Warm the fireside haven -
Not to autumn will I yield,
Not to winter even!
 
Let the blow fall soon or late,
Let what will be o'er me;
Give the face of earth around,
And the road before me.
Wealth I ask not, hope nor love,
Nor a friend to know me;
All I ask, the heaven above
And the road below me.
 
 
KHÔNG HIỂU VỚI BẠN CÓ LÀ NHƯ THẾ
 
Không hiểu với bạn có là như thế
Nhưng mà tôi, tôi yêu mến vô cùng
Tất cả những gì ở trong hiện tại
Và những gì trong quá khứ xa xăm.
 
Bởi vì ta không thể nào thay đổi
Một thứ gì đang có hay đã từng
Một ngôi sao đến muôn đời vẫn vậy
Soi sáng trần gian từ giữa trời đêm.
 
Và trong cuộc sống, mỗi ngày mỗi giờ
Có những thứ mới mẻ luôn xuất hiện:
Một con đường, vườn cây, một bông hoa
Những bụi mâm xôi mà ta yêu mến.
 
I Know Not How It is With You
(From Songs of Travel)
 
I know not how it is with you --
I love the first and last,
The whole field of the present view,
The whole flow of the past.
 
One tittle of the things that are,
Nor you should change nor I --
One pebble in our path -- one star
In all our heaven of sky.
 
Our lives, and every day and hour,
One symphony appear:
One road, one garden -- every flower
And every bramble dear.
 
 
VỢ TÔI
 
Tin cậy và chung thủy
Đôi mắt nàng sáng trong
Người bạn đời trung thành
Bậc Nghệ nhân vĩ đại
Đã ban tặng tôi chăng?
 
Dũng cảm và danh dự
Yêu cuộc sống, yêu tình
Với cái chết coi thường
Có phải Thầy vĩ đại
Đã ban tặng cho nàng?
 
Người thầy, người đồng chí
Người vợ, người bạn đường
Toàn tâm và toàn ý
Có phải Cha trên ấy
Đã ban tặng tôi không?
 
My Wife
(From Songs of Travel)
 
Trusty, dusky, vivid, true,
With eyes of gold and bramble-dew,
Steel-true and blade-straight,
The great artificer
Made my mate.
 
Honour, anger, valour, fire;
A love that life could never tire,
Death quench or evil stir,
The mighty master
Gave to her.
 
Teacher, tender, comrade, wife,
A fellow-farer true through life,
Heart-whole and soul-free
The august father
Gave to me.
 
 

Tập “Vườn thơ của trẻ”

KHÔNG PHẢI TÔI
 
Ai đấy thích uống rượu
Ai đấy một panh bia.
Ai đấy thích suy nghĩ
Ai không thích điều này.
 
Mùi nồng của phô mai
Rượu Kentucky cũ
Ai đấy thích điều đó
Nhưng mà không phải tôi.
 
Người này thấy thích Pô
Người kia thích Scott
Stow – ai đấy thích
Ai không thích người này.
 
Ai đấy chỉ thích cười
Còn ai chỉ thích khóc
Ai chế giễu người khác
Nhưng mà không phải tôi.
 
Not I
 
Some like drink
In a pint pot.
Some like to think;
Some not.
 
Strong Dutch Cheese,
Old Kentucky Rye,
Some like these;
Not I.
 
Some like Poe
And other like Scott;
Some like Mrs Stow;
Some not.
 
Some like to laugh,
Some like to cry,
Some like chaff;
Not I.
 
 


TRẺ EM NƯỚC NGOÀI
 
Bạn người Thổ, người Ấn
Người Nhật, người da đen…
Các bạn có muốn sống
Ở đất nước chúng mình?
 
Quê bạn có nhiều cây
Có bao nhiêu loài thú
Bạn ăn trứng đà điểu
Rút chân những con rùa.
 
Quả thực là tuyệt vời
Nhưng không bằng tôi nhé
Bạn nhiều khi khó chịu
Không được đi nước ngoài.
 
Bạn ăn thứ lạ đời
Còn tôi chỉ ăn thịt
Bạn sống ngoài bọt nước
Còn tôi – chỉ nhà thôi.
 
Bạn người Thổ, người Ấn
Người Nhật, người da đen…
Các bạn có muốn sống
Ở đất nước chúng mình?
 
Foreign Children
 
Little Indian, Sioux or Crow,
Little frosty Eskimo,
Little Turk or Japanee,
O! Don’t you wish that you were me?
 
You have seen the scarlet trees
And the lions oversees;
You have eaten ostrich eggs,
And turned the turtles off their legs.
 
Such a life is very fine,
But it’s not so nice as mine:
You must often, as you trod,
Have wearied not to be abroad.
 
You have curious things to eat,
I am fed on proper meat;
You must dwell beyond the foam,
But I am safe and live at home.
 
Little Indian, Sioux or Crow,
Little frosty Eskimo,
Little Turk or Japanee,
O! Don’t you wish that you were me?
 
 
AI CŨNG HÁT
 
Chim mẹ hát về trứng
Về tổ và chim non
Thủy thủ về cánh buồm
Những thứ trên tàu biển.
 
Trẻ hát ở nước Nhật
Và ở Tây Ban Nha
Khi trời đổ cơn mưa
Người ôm phong cầm hát.
 
Singing
 
Of speckled eggs the birdie sings
And nests among the trees;
The sailor sings of ropes and things
In ships upon the seas.
 
The children sing in far Japan,
The children sing in Spain;
The organ with the organ man
Is singing in the rain.
 
 
GỬI MẸ TÔI
 
Mẹ thân yêu, mẹ đọc thơ của con
Vì tình yêu đã từng trong quá khứ
Mẹ có thể nghe lại thêm lần nữa
Những bước chân nhỏ nhẹ bước trên sàn.
 
To my Mother
 
You too, my mother read my rhymes
For love of unforgotten times,
And you may chance to hear once more
The little feet along the floor.
 
 
NHIỆM VỤ CỦA TRẺ EM
 
Con trẻ phải luôn nói những gì đúng
Phải biết cách cư xử tại bàn ăn
Và trả lời câu hỏi của người lớn
Mỗi khi người lớn nói chuyện với con.
 
Whole Duty of Children
 
A CHILD should always say what’s true  
And speak when he is spoken to,    
And behave mannerly at table;        
At least as far as he is able.
 
 
CẬU BÉ NGOAN
 
Thức dậy sớm, tôi vui suốt cả ngày
Không nói lời xấu, gặp ai cũng cười.
 
Và bây giờ khi mặt trời đã lặn
Tôi thấy vui vì biết rằng mình đúng.
 
Giường của tôi mát mẻ với vải lanh
Tôi đi ngủ, và cầu nguyện không quên.
 
Tôi biết rằng đến lúc mặt trời mọc
Không có ác mộng làm tôi thức giấc.
 
Tôi ngủ say cho đến buổi bình minh
Rồi thức giấc nghe chim hót trên cành.
 
A Good Boy
 
I woke before the morning, I was happy all the day,
I never said an ugly word, but smiled and stuck to play.
 
And now at last the sun is going down behind the wood,
And I am very happy, for I know that I've been good.
 
My bed is waiting cool and fresh, with linen smooth and fair,
And I must be off to sleepsin-by, and not forget my prayer.
 
I know that, till to-morrow I shall see the sun arise,
No ugly dream shall fright my mind, no ugly sight my eyes.
 
But slumber hold me tightly till I waken in the dawn,
And hear the thrushes singing in the lilacs round the lawn.
 
 
NHÌN VỀ PHÍA TRƯỚC
 
Một mai này, khi mà tôi đã lớn
Thành một chàng trai cao to khỏe mạnh
Sẽ nói với các chị các anh rằng
Đừng động vào kẻo đồ chơi tôi hỏng.
 
Looking Forward
 
WHEN I am grown to man’s estate 
I shall be very proud and great,       
And tell the other girls and boys      
Not to meddle with my toys.
 
 
HỆ THỐNG
 
Mỗi buổi tối cầu nguyện trước khi ngủ
Và mỗi ngày gọn ghẽ trước bàn ăn
Nếu ngày nào cũng ngoan như vậy cả
Sau khi ăn tôi được thưởng quả cam.
 
Có cậu bé không gọn gàng tươm tất
Đồ chơi, đồ ăn để lộn tùng phèo
Bạn không ngoan, nhưng mà tôi tin chắc –
Hay là cha của bạn ấy rất nghèo.
 
System
 
Every night my prayers I say,
And get my dinner every day;
And every day that I've been good,
I get an orange after food.
 
The child that is not clean and neat,
With lots of toys and things to eat,
He is a naughty child, I'm sure—
Or else his dear papa is poor.
 
 
MƯA
 
Mưa đổ xuống khắp nơi,
Trên cánh đồng, trên cây,
Trên những con tàu biển
Và trên chiếc ô này.
 
Rain
 
The rain is raining all around,
It falls on field and tree,
It rains on the umbrellas here,
And on the ships at sea.
 
 
Ý NGHĨ VUI
 
Có biết bao nhiêu thứ
Tuyệt vời ở trần gian
Tôi tin rằng ta sẽ
Hạnh phúc như ông hoàng.
 
Happy Thought
 
The world is so full of a number of things,
I'm sure we should all be as happy as kings.
 
 
THỜI GIAN THỨC DẬY
 
Có con chim mỏ vàng
Đậu lên ô cửa sổ
Chim kêu: “Ngủ nhiều thế
Bạn có xấu hổ không!”
 
Time to Rise
 
A birdie with a yellow bill
Hopped upon my window sill,
Cocked his shining eye and said:
"Ain't you 'shamed, you sleepy-head!"
 
 

Tập “Những khóm cây thấp”
 
KHÚC TƯỞNG NIỆM
 
Dưới bầu trời rộng mở, dưới sao trời
Hãy đào huyệt, chôn tôi nằm xuống đất
Tôi đã sống và tôi vui lòng chết
Lời di chúc tôi để lại thế này.
 
Xin bạn hãy ghi trên mộ của tôi:
“Anh nằm ở nơi mà anh mong muốn
Như người thủy thủ trở về với biển
Như người thợ săn về với núi đồi”.
 
Requiem
(From Underwoods)
 
Under the wide and starry sky
Dig the grave and let me lie.
Glad did I live and gladly die,
And I laid me down with a will.
 
This be the verse you grave for me;
Here he lies where he longed to be,
Home is the sailor, home from sea,
And the hunter home from the hill.
 
 
Tập “Thơ mới”
 
VÀO CỬA TỰ DO
 
Hỡi vị khách quí! Vào cửa tự do
Tất cả của bạn, những gì bạn thấy
Ta đều là khách một hồi của Chúa
Không biết khi nào sẽ phải ra đi.
 
Hail, Guest, And Enter Freely!
(From New poems and variant readings)
 
HAIL, guest, and enter freely! All you see
Is, for your momentary visit, yours; and we
Who welcome you are but the guests of God,
And know not our departure.


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét