Thứ Bảy, 12 tháng 9, 2020

Thơ Isaac Rosenberg

 


Isaac Rosenberg (25 tháng 11 năm 1890 – 1 tháng 4 năm 1918) – nhà thơ và họa sĩ Anh. Một trong những nhà thơ Anh nổi tiếng nhất – những người đã chứng kiến Chiến tranh thế giới thứ nhất.
 
Tiểu sử
Isaac Rosenberg sinh ra trong một gia đình Do Thái nghèo, những người đã trốn sang Anh từ Đế quốc Nga vì sợ bị truy sát. Năm 1897, gia đình chuyển đến Stepney, một quận nghèo của Luân Đôn và có cộng đồng Do Thái lớn. Ông theo học trường Thánh Paul nhưng vào năm 1904, vì nghèo, ông bỏ học và đi học làm thợ khắc. Thời gian này ông bắt đầu làm thơ.
 
Rosenberg đã phản ứng tiêu cực với Chiến tranh thế giới thứ nhất, tuy nhiên, do thất nghiệp vào mùa thu năm 1915, ông buộc phải tình nguyện nhập ngũ. Trong một bức thư, Rosenberg mô tả thái độ của mình đối với chiến tranh, “Tôi không bao giờ gia nhập quân đội vì lý do yêu nước. Không gì có thể biện minh cho chiến tranh. Tôi cho rằng tất cả chúng ta phải chiến đấu là để vượt qua rắc rối”.
 
Tháng 6 năm 1916, Isaac Rosenberg được cử đến Mặt trận phía Tây nước Pháp. Là một lính quèn, ông buộc phải làm những công việc bẩn thỉu nhất trong chiến tranh, trải qua những khó khăn gian khổ nhất. Tuy nhiên, sự khao khát sáng tạo càng mạnh mẽ hơn. Trong những lúc rảnh rỗi, nhà thơ thường tìm một ngọn nến, một cây bút chì và những nét vẽ nguệch ngoạc trên những mảnh giấy kiếm được, phản ánh hiện thực khắc nghiệt của đời sống ở chiến trường. Theo các nhà nghiên cứu, những bài thơ “chiến hào” của Rosenberg là những bài thơ sáng giá nhất của Chiến tranh thế giới thứ nhất.
 
Tháng 3 năm 1918, nhà thơ xin chuyển đến tiểu đoàn Do Thái ở Lưỡng Hà. Cơ hội để tìm thấy chính mình trong những vùng đất cổ xưa trong Kinh Thánh đã thúc đẩy ông sáng tác một số bài thơ liên quan đến chủ đề Cựu Ước. 
 
Tuy nhiên, giấc mơ đến thăm vùng Đất Thánh của nhà thơ đã không thành hiện thực. Isaac Rosenberg bị giết vào ngày 1 tháng 4 năm 1918 khi tuần tra hàng rào thép gai vào ban đêm và được chôn trong một ngôi mộ tập thể. Một thập kỷ sau, hài cốt của ông được xác định danh tính và được cải táng tại một nghĩa trang ở Saint-Laurent-Blangy (miền Bắc nước Pháp). Ngôi sao của David và dòng chữ “Họa sĩ và nhà thơ” được khắc trên bia mộ của ông.
 
3 bài thơ


 
NGƯỜI LÍNH SẮP CHẾT
 
“Nhà tôi ở gần đây – anh rên rỉ –
Tôi muốn về, nhưng đầu óc quay cuồng”.
Sau đó là những tiếng nổ xung quanh
Tiếng đạn pháo, tiếng mìn vang ầm ĩ.
 
Anh thở hổn hển một cách khó nhọc
“Người của ta đang bắn súng, nổ mìn…
Nước, cho tôi xin nước… cho tôi xin!
Một người lính của nước Anh đang chết”.
 
“Chúng tôi không thể cho anh uống nước
Nước Anh trong từng hơi thở của anh”.
“Nước, cho tôi xin nước… cho tôi xin!”
Người lính kêu xong ngã lăn ra chết.
 
The Dying Soldier
 
"Here are houses," he moaned,
"I could reach, but my brain swims."
Then they thundered and flashed,
And shook the earth to its rims.
 
"They are gunpits," he gasped,
"Our men are at the guns.
Water!... Water!... Oh, water!
For one of England's dying sons."
 
"We cannot give you water,
Were all England in your breath."
"Water!... Water!... Oh, water!"
He moaned and swooned to death.
 
 


NHỮNG NGƯỜI BẤT TỬ
 
Tôi đã giết, nhưng họ không hề chết
Bởi vì tôi không ngủ được hằng đêm
Tôi mất sự bình yên trong tâm hồn
Không tự bảo vệ và không trốn thoát.
 
Tôi lao vào cuộc chiến tranh vô ích
Máu những con người vấy đỏ bàn tay
Họ nằm xuống rồi lại đứng dậy ngay
Họ hồi sinh còn kinh hoàng hơn trước.
 
Tôi đã giết trong điên cuồng máu đổ
Giết cho đến khi sức lực không còn
Giờ quay về hỏi tội, họ hồi sinh
Vì cái chết là niềm vui của quỉ.
 
Xưa tôi nghĩ quỉ sứ thường lẩn trốn
Trong nụ cười phụ nữ với rượu vang
Tôi gọi chúng là Balzebub, Satan
Giờ tôi gọi chúng là con rệp bẩn.
 
The Immortals
 
I killed them, but they would not die.
Yea! all the day and all the night
For them I could not rest or sleep,
Nor guard from them nor hide in flight.
 
Then in my agony I turned
And made my hands red in their gore.
In vain - for faster than I slew
They rose more cruel than before.
 
I killed and killed with slaughter mad;
I killed till all my strength was gone.
And still they rose to torture me,
For Devils only die in fun.
 
I used to think the Devil hid
In women’s smiles and wine’s carouse.
I called him Satan, Balzebub.
But now I call him, dirty louse.
 
 
NGƯỜI DO THÁI
 
Tôi, người Do Thái – con cháu của Mô-sê
Một ngọn đèn trong máu tôi thắp sáng
Mười quy tắc bất biến, một mặt trăng
Dành cho những người bị mất ánh sáng.
 
Và mọi người, dù màu da khác nhau
Nhưng đều giống nhau – một dòng máu đỏ
Giữ thủy triều mà Mô-sê cai trị.
Thì tại sao người ta nhạo cười tôi?
 
The Jew
 
Moses, from whose loins I sprung,
Lit by a lamp in his blood
Ten immutable rules, a moon
For mutable lampless men.
 
The blonde, the bronze, the ruddy,
With the same heaving blood,
Keep tide to the moon of Moses.
Then why do they sneer at me?
 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét