Thứ Sáu, 11 tháng 9, 2020

Thơ Philip Sidney

 


Philip Sidney (30 tháng 11 năm 1554 – 17 tháng 10 năm 1586) là một nhà thơ và cận thần người Anh trong thời đại Elizabeth.
 
Tiểu sử
Xuất thân quí tộc, tốt nghiệp Đại học Oxford, Sidney yêu khoa học, ngôn ngữ và văn học và trở thành người bảo trợ của các nhà thơ trước khi ông trở nên nổi tiếng trong lĩnh vực này.
 
Với mong muốn trong tương lai sẽ phục vụ trong lĩnh vực ngoại giao, ông đã dành ba năm sống ở Pháp, nơi ông trở thành bạn thân với các nhà văn Tin lành. Sống sót sau “Thảm sát Ngày lễ Thánh Barthélemy” ở Paris, Sydney càng háo hức đấu tranh cho sự nghiệp Tin lành. Nhưng vì nữ hoàng không chia sẻ quan điểm tôn giáo của ông nên Sidney đã nghỉ việc một thời gian ở các điền trang của mình, nơi tài năng thơ ca của ông đột nhiên bộc lộ. Trong sự yên bình ở nông thôn, Sydney đã sáng tác một tập thơ trữ tình mang tên “Astrophel and Stella” gồm 108 bài sonnet và 11 bài ca. Tên nhân vật “Astrophel” trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là “Người yêu sao”, còn “Stella” dịch từ tiếng Latinh nghĩa là sao.
 
Ông trở lại triều đình trong ánh hào quang của danh tiếng sau khi Nữ hoàng Elizabeth I vui vẻ chấp nhận vở kịch “Nữ hoàng tháng Năm” mà ông viết về bà. Tại thủ đô, một nhóm các nhà thơ được gọi là “Nhóm Areopagus” tập hợp xung quanh ông, bao gồm Fulke Greville, Edward Dyer, Edmund Spenser và Gabriel Harvey. Từ đó trở đi, Sidney trong con mắt của người Anh đương thời, là hiện thân của một cận thần hoàn hảo, kết hợp giữa dòng dõi quý tộc, sự giáo dục, lòng dũng cảm và tài năng thơ ca.
 
Năm 1581 ông trở thành thành viên của Nghị viện Kent. Năm 1583, ông đi chiến đấu vì sự nghiệp Tin lành ở Hà Lan. Ông đã đạt được một số thành công quân sự ở đó. Năm 1585 ông được bổ nhiệm làm thống đốc  Flushing ở Hà Lan. Trong một thời gian, dưới sự lãnh đạo của ông, quân đội Anh không đạt được kết quả và đã thua trong trận Zutphen. Sidney bị thương nặng trong trận này, trong quá trình vận chuyển đến Arnham đã bị ngộ độc máu từ đó dẫn đến cái chết. Trước khi chết, ông đã làm một nghĩa cử cao đẹp – được người ta mang đến cho chai nước nhưng cảm thấy rằng mình sắp chết, ông đã đưa nó cho một người lính bị thương nhẹ và nói rằng anh ta cần được giúp đỡ.
 
Thi thể của ông được chuyển về Anh và được chôn cất với nghi lễ Hoàng gia tại Nhà thờ St. Paul vào ngày 16 tháng 2 năm 1587. Cái chết bi thảm của một anh hùng Tin lành đã biến ông trở thành một huyền thoại của dân tộc Anh và trong nhiều năm, Ngài Philip là nhà thơ nổi tiếng nhất ở Anh. Ông là nhà thơ đầu tiên của thời đại Elizabeth có những bài thơ được dịch sang các ngôn ngữ châu Âu khác.
 
Tác phẩm
*Nữ hoàng tháng Năm (The Lady of May1578), kịch
*Astrophel and Stella, 1580, thơ
*Bảo vệ Thơ ca (An Apology for Poetry (A Defence of Poesie and The Defence of Poetry, 1583), phê bình
*Arcadia (The Countess of Pembroke's Arcadia, 1590), tiểu thuyết
 
5 bài thơ
 

Từ tác phẩm “Astrophel and Stella”
 
SONNET 1
 
Tôi muốn tả trong thơ tình yêu mình
Để Nàng thơ thấy rằng tôi khó nhọc
Để khi đọc Nàng tỏ ra thương xót
Bởi nếu thương tình ân sủng sẽ ban.
 
Lời thích hợp cho thơ tôi đi tìm
Trong nhiều tập sách của bao người khác
Để trong não bị mặt trời thiêu đốt
Có những dòng thơ từ đấy sẽ tuôn.
 
Nhưng mà không, lời khập khiễng, xa xăm
Lời của tôi giống như bầy trẻ nhỏ
Những bước chân trên con đường xa lạ
Trong khổ đau tôi cắn bút âm thầm.
 
Bỗng đột nhiên, Nàng thơ kêu: – Đồ ngốc
Hãy nhìn vào con tim và hãy viết!
 
Sonnet 1
 
Loving in truth, and fain in verse my love to show,
That she, dear she, might take some pleasure of my pain,
Pleasure might cause her read, reading might make her know,
Knowledge might pity win, and pity grace obtain,—
 
I sought fit words to paint the blackest face of woe,
Studying inventions fine, her wits to entertain,
Oft turning others’ leaves, to see if thence would flow
Some fresh and fruitful showers upon my sunburned brain.
 
But words came halting forth, wanting Invention’s stay:
Invention, Nature’s child, fled step-dame Study’s blows,
And others’ feet still seemed but strangers in my way.
Thus great with child to speak, and helpless in my throes,
 
Biting my truant pen, beating myself for spite:
“Fool,” said my Muse to me, “look in thy heart and write.”
 
 
SONNET 2
 
Không mũi tên, không cái nhìn đầu tiên
Thần tình yêu đã làm tôi đau đớn
Bởi biết rằng không cần sức phí uổng
Đối với tôi thần chinh phục dễ dàng.
 
Tôi thấy yêu, thích thú, nhưng rồi quên
Tôi đã yêu nhưng tình tôi giấu kỹ
Và cuối cùng với tình tôi đồng ý
Ngọn lửa tình bùng cháy ở trong tim.
 
Giờ bước chân tự do cũng không còn
Như người Nga sinh ra làm nô lệ*
Tôi gọi đó không phải điều tai họa
Vui với phần còn lại của trí khôn.
 
Để tôi tin rằng điều này tốt đẹp
Và tôi vui mừng vẽ ra địa ngục.
________________
*Câu “Như người Nga sinh ra làm nô lệ”, ý tác giả so sánh người đang yêu trong sự tù hãm của tình giống như người dân Nga trong thời cai trị của Ivan Bạo Chúa (1530 – 1584).
 
Sonnet 2
 
Not at first sight, nor with a dribbed shot
Love gave the wound, which while I breathe will bleed;
But known worth did in mine of time proceed,
Till by degrees it had full conquest got:
 
I saw and liked, I liked but loved not;
I lov'd, but straight did not what Love decreed.
At length to love's decrees I, forc'd, agreed,
Yet with repining at so partial lot.
 
Now even that footstep of lost liberty
Is gone, and now like slave-born Muscovite
I call it praise to suffer tyranny;
And now employ the remnant of my wit
 
To make myself believe that all is well,
While with a feeling skill I paint my hell.
 
 

SONNET 6
 
Nhà thơ nói với Nàng thơ của mình
Về hy vọng và nỗi sợ thường xuyên
Về ánh sáng sinh ra từ địa ngục
Về bão giông, cái chết, vết thương lòng.
 
Thần Jove với hình dáng lạ lùng
Khi cơn mưa vàng, khi con bò đực
Rồi làm một kẻ chăn cừu khi khác
Thổi sáo rất hay rảo bước trên đồng.
 
Ông không than phiền trong thơ của mình
Từ bờ môi ông những lời thổn thức
Nước mắt, nỗi buồn tuôn theo ngòi bút
Giá mà tôi cũng làm được như ông.
 
Trong lòng tôi không có những lời kia
Giọng run rẩy rằng tôi yêu Stella.
 
Sonnet 6
 
Some lovers speak when they their Muses entertain,
Of hopes begot by fear, of wot not what desires:
Of force of heav'nly beams, infusing hellish pain:
Of living deaths, dear wounds, fair storms, and freezing fires.
 
Some one his song in Jove, and Jove's strange tales attires,
Broidered with bulls and swans, powdered with golden rain;
Another humbler wit to shepherd's pipe retires,
Yet hiding royal blood full oft in rural vein.
 
To some a sweetest plaint a sweetest style affords,
While tears pour out his ink, and sighs breathe out his words:
His paper pale despair, and pain his pen doth move.
I can speak what I feel, and feel as much as they,
 
But think that all the map of my state I display,
When trembling voice brings forth that I do Stella love.
 
 
SONNET 31
 
Trăng ơi trăng, vì sao trăng đi chậm
Trăng âm thầm để khuôn mặt buồn tênh
Có lẽ nào ở tận chốn cao xanh
Cũng có kẻ mang cung tên ra bắn?
 
Trong tình yêu ta cũng từng đau đớn
Trăng cũng như ta – những kẻ đang yêu
Ta đọc trong mắt đau khổ đã nhiều
Ta cảm nhận nỗi niềm trăng tuyệt vọng.
 
Ta là bạn bè trong điều bất hạnh
Hãy trả lời ta: có phải trên kia
Tình yêu chung thủy vẫn cứ dại khờ
Và người đẹp vẫn khinh khi, ngạo mạn?
 
Vẫn có những kẻ khinh người yêu mình?
Và gọi đức hạnh là sự vô ơn?
 
Sonnet 31
 
With how sad steps, O Moon, thou climb'st the skies!
How silently, and with how wan a face!
What, may it be that even in heav'nly place
That busy archer his sharp arrows tries!
 
Sure, if that long-with love-acquainted eyes
Can judge of love, thou feel'st a lover's case,
I read it in thy looks; thy languish'd grace
To me, that feel the like, thy state descries.
 
Then, ev'n of fellowship, O Moon, tell me,
Is constant love deem'd there but want of wit?
Are beauties there as proud as here they be?
Do they above love to be lov'd, and yet
 
Those lovers scorn whom that love doth possess?
Do they call virtue there ungratefulness?
 

Từ tác phẩm “Arcadia”
 
TÌNH ĐÍCH THỰC
 
Tình đích thực, tôi trao trái tim mình
Anh nhận về và tim anh trao lại
Anh giữ của tôi, tôi giữ của anh
Còn đổi trao nào đẹp hơn thế nữa.
 
Hai con tim sống một cuộc đời chung
Chính vì thế càng đủ đầy ý nghĩa
Anh yêu tình tôi như yêu chính mình
Tôi yêu anh vì tình tôi mong thế.
 
Ánh mắt tôi làm trái tim đau đớn
Của anh của tôi cùng một nỗi đau
Cả hai con tim cùng nhau chịu đựng
Vì hai con tim chia sẻ cho nhau.
 
Cả hai bị thương – niềm vui chỉ một
Chúng tôi trao nhau tình yêu đích thực.
 
My True Love Hath My Heart
(Song from Arcadia)
 
My true love hath my heart, and I have his,
By just exchange one for the other given:
I hold his dear, and mine he cannot miss;
There never was a bargain better driven.
 
His heart in me keeps me and him in one;
My heart in him his thoughts and senses guides:
He loves my heart, for once it was his own;
I cherish his because in me it bides.
 
His heart his wound received from my sight;
My heart was wounded with his wounded heart;
For as from me on him his hurt did light,
So still, methought, in me his hurt did smart:
 
Both equal hurt, in this change sought our bliss,
My true love hath my heart, and I have his.
 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét