Chủ Nhật, 22 tháng 1, 2017

Thơ William Henry Davies


William Henry Davies hoặc WH Davies (ngày 03 tháng 7 năm 1871 – 26 tháng 9 năm 1940) là nhà thơ, nhà văn xứ Uên. Davies vốn là một kẻ lang thang ở Vương quốc Anh và Hoa Kỳ, nhưng đã trở thành một trong những nhà thơ nổi tiếng nhất của thời đại mình. Các chủ đề chính trong tác phẩm của ông là những quan sát về những vất vả, khó khăn của đời sống, về tình người, về thiên nhiên, về những con người khác nhau mà ông đã gặp trên bước đường phiêu lãng. 

Tiểu sử:
William Davies sinh ở xứ Uên. Bố mất từ năm lên 3 tuổi, được ông nội, là một chủ quán rượu nuôi dưỡng. Học mấy năm ở trường làng nhưng bị đuổi vì hay ăn trộm. Năm lên 14 tuổi được vào làm ở một xưởng sản xuất khung tranh. Năm 19 tuổi đến Bristol và sau đó đến London, sống lang thang và nghèo khổ. Năm 1893 sang Mỹ trở thành một ma cà bông chuyên nghiệp. Tiền kiếm được từ việc hái trái cây cho các trang trại hoặc làm thuê ở các công trường xây dựng, thường bị đánh và nhiều lần suýt chết vì bệnh sốt rét. Một thời gian sang Canada và trong một lần nhảy tàu ở Renfrew, Ontario bị mất một chân. 

Trở về Anh không một xu dính túi, Davies tiếp tục sống lang thang và rất cố gắng để thơ của mình được công chúng biết đến. Năm 1904 ông được một nhà xuất bản đồng ý sẽ in thơ của ông với điều kiện phải đưa trước 19 đồng bảng. Nửa năm sau đó ông đã kiếm đủ số tiền trên và năm 1905 tập thơ Kẻ hủy diệt linh hồn và những bài thơ khác (The Soul's Destroyer and Other Poems) được xuất bản. Sau đó ông tìm cách gửi cho các nhà phê bình, các nhà thơ, nhà văn nổi tiếng mà ông biết được qua cuốn sách Ai là Ai (Who’s Who). Trong số này có cả nhà soạn kịch, nhà văn đoạt giải Nobel, George Bernard Shaw. Năm 1907 ông tiếp tục xuất bản cuốn Thơ mới (New Poems) và cuốn Tự truyện của một Siêu-Ma cà bông (Autobiography of a Super-Tramp) do George Bernard Shaw viết lời giới thiệu. Từ Siêu-Super được thêm vào theo đề nghị của George Bernard Shaw. 

Từ đây William Davies trở thành một nhà thơ nổi tiếng không chỉ ở nước Anh. Từ năm 1911 ông được trợ cấp 50 bảng Anh hàng năm. Năm 1923 ông cưới vợ. Năm 1926 được trao bằng Tiến sĩ danh dự của Đại học Wales. Ông là tác giả của nhiều bài thơ được yêu thích không chỉ ở Anh. Ý tưởng nhìn những chiếc xe chở người giống như những cỗ quan tài của William Davies trong bài thơ Người ngủ (Sleepers) rất hay được dùng để ám chỉ những chiếc xe khách ở những nơi còn lắm tai nạn giao thông như Việt Nam.

William Davies mất ngày 26 tháng 9 năm 1940, hưởng thọ 69 tuổi. 

Tác phẩm:
*Kẻ hủy diệt linh hồn và những bài thơ khác (The Soul's Destroyer and Other Poems, 1905)
*Thơ mới (New Poems, 1907)
*Tự truyện của một Siêu-Ma cà bông (Autobiography of a Super-Tramp, 1907)
*Những kẻ ăn mày (Beggars, 1909) 
*Người du hành đích thực (The True Traveller, 1912)
*Người phụ nữ yếu ớt (A Weak Woman, 1911) 
*Những cuộc phiêu lưu của Johnny Walker, Ma cà bông (The Adventures of Johnny Walker, Tramp, 1926).
*Những khúc ca vui (Songs of Joy, 1911)
*Những chiếc lá (Foliage, 1913)
*Thiên nhiên (Nature, 1914)
*Chim thiên đàng (The Bird of Paradise, 1914)
*Bốn mươi bài thơ mới (Forty New Poems, 1918)
*Những bí mật (Secrets, 1924)
*Bảng chữ cái thơ (A Poet's Uphabet, 1925)
*Lịch thơ (A Poet's Calendar, 1927)
*Thơ tình (Love Poems, 1935).
*Toàn tập thơ (Complete Poems, 1963)

Một số bài thơ


THỜI GIAN RỖI

Sao mà đời lắm thứ phải quan tâm
Không còn thời gian để đứng và nhìn.

Không thời gian để đứng dưới lá cành
Như dê cừu – chúng chỉ đứng nhìn quanh.

Không thời gian khi ta đi qua rừng
Nhìn chú sóc giấu đồ ăn trong cỏ.

Không thời gian để ban ngày nhìn rõ
Dải ngân hà như là giữa trời đêm.

Không thời gian để nhìn xuống chân em
Bước trên đường như người đang khiêu vũ.

Không thời gian đợi nụ cười rạng rỡ
Âu yếm ngọt ngào nở trên môi em.

Đời thật khổ, quá nhiều thứ quan tâm
Không có thời gian để đứng mà nhìn. 


Leisure

WHAT is this life if, full of care,
We have no time to stand and stare?—

No time to stand beneath the boughs,
And stare as long as sheep and cows:

No time to see, when woods we pass,
Where squirrels hide their nuts in grass:

No time to see, in broad daylight,
Streams full of stars, like skies at night:

No time to turn at Beauty's glance,
And watch her feet, how they can dance:

No time to wait till her mouth can
Enrich that smile her eyes began?

A poor life this if, full of care,
We have no time to stand and stare.




NGƯỜI NGỦ

Hôm ấy tôi đi bộ xuống bờ sông
Trời ẩm ướt, tối đen và tĩnh lặng
Những chú gà hãy còn chưa gáy sáng
Tiếng chó sủa hãy còn chưa vang lên
Và khi đó chưa đến giờ thứ năm
Mà đồng hồ Westminster sẽ gióng. 

Hôm ấy tôi đi bộ xuống bờ sông
Trong không khí ẩm ướt và giá lạnh
Thấy cả trăm phụ nữ và đàn ông
Những kẻ rách rưới, không có việc làm
Họ ngủ ở đây, bên nhau túm tụm
Thấy cảnh ấy, tôi xót xa nghĩ rằng
Những kẻ này chỉ có đường chết sớm. 

Ngay lúc đấy, một chiếc xe sáng đèn
Đang từ từ ghé xuống bên bờ sông
Tôi nhìn vào bên trong xe và thấy
Mệt mỏi, bơ phờ – những người đàn ông 
Mặt mày cau có và đang tranh thủ
Ngủ một giấc ngắn ngủi trước khi làm. 

Mười chiếc xe tiếp đó ghé bờ sông
Như mười cỗ quan tài trong bóng đêm
Trong mỗi xe có hai mươi xác sống
Những xác sẽ hồi sinh làm việc nặng
Thấy cảnh ấy, tôi xót xa nghĩ rằng
Những kẻ này chỉ có đường chết sớm.


The Sleepers

As I walked down the waterside
This silent morning, wet and dark;
Before the cocks in farmyards crowed,
Before the dogs began to bark;
Before the hour of five was struck
By old Westminster's mighty clock:

As I walked down the waterside
This morning, in the cold damp air,
I saw a hundred women and men
Huddled in rags and sleeping there:
These people have no work, thought I,
And long before their time they die.

That moment, on the waterside,
A lighted car came at a bound;
I looked inside, and saw a score
Of pale and weary men that frowned;
Each man sat in a huddled heap,
Carried to work while fast asleep.

Ten cars rushed down the waterside
Like lighted coffins in the dark;
With twenty dead men in each car,
That must be brought alive by work:
These people work too hard, thought I,
And long before their time they die.




TÔI LÀ NHÀ THƠ DAVIES, WILLIAM 

Tôi là nhà thơ Davies, William
Không hề đỏ mặt, không hề luống cuống
Tôi là người thích sống để mà ăn
Tôi là người thích sống để mà uống. 

Đôi môi dày và mặt tôi sưng phồng
Da tôi thô và có màu đen thẫm
Nhưng thơ của tôi lại càng quái đản
Minh chứng rằng hồn tôi có màu đen. 

Nhờ ơn trời em đã không lấy anh
Một nhà thơ đầy nghĩ suy tăm tối
Nhưng mà linh hồn của anh tội lỗi
Cả trăm ngàn con quỉ bắt không xong.


I am the poet Davis, William

I am the poet Davis, William
I sin without a blush or blink:
I am a man that lives to eat,
I am a man that lives to drink.

My face is large, my lips are thick,
My skin is coarse and black almost;
But the ugliest feature is my verse,
Which proves my soul is black and lost.

Thank heaven thou didst not marry me,
A poet full of blackest evil;
For how to manage my damned soul
Will puzzle many a flaming devil.


TRĂNG

Vẻ đẹp của em ám ảnh cõi lòng
Ôi, trăng thanh, trăng gần và sáng sủa
Vẻ đẹp này biến tôi thành trẻ nhỏ
Đưa bàn tay bé bỏng hướng về trăng:
Trăng ơi trăng, trăng sáng tỏ trong đêm
Hãy để ta đưa trăng vào giường ngủ.

Như bày tỏ với trăng lòng ngưỡng mộ
Tiếng chim họa mi vẫn hót trong đêm
Nhưng hãy để sự lặng im nói hộ
Cho cõi lòng ta yêu dấu, vì rằng
Tiếng họa mi không thể sánh cùng trăng.

The Moon

Thy beauty haunts me heart and soul,
Oh, thou fair Moon, so close and bright;
Thy beauty makes me like the child
That cries aloud to own thy light:
The little child that lifts each arm
To press thee to her bosom warm.

Though there are birds that sing this night
With thy white beams across their throats,
Let my deep silence speak for me
More than for them their sweetest notes:
Who worships thee till music fails,
Is greater than thy nightingales.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét